Lịch sử - Văn hóa Huế
Lễ tế Giao - một lễ hội cung đình độc đáo của Huế
Ngày 10 tháng 12 năm 2019.

Khi vừa lên ngôi vua Gia Long cho lập đàn Nam Giao ở làng An Ninh để làm lễ tế trời hàng năm. Năm 1806 ông cho lập đàn khác ở vùng gò đồi Dương Xuân. Đó là đàn Nam Giao hiện nay. Đàn xây lộ thiên gồm 3 tầng chồng lên nhau, tượng trưng cho thuyết Tam tài: Thiên - Địa – Nhân. Mỗi tầng có một hình dạng, màu sắc riêng. 

Tầng trên hình tròn, lan can xung quanh sơn màu xanh, tượng trưng cho trời, có tên là Viên Đàn. Tầng giữa hình vuông, lan can sơn màu vàng, tượng trưng cho đất, gọi là Phương Đàn. Tầng dưới cũng hình vuông, tượng trưng cho người nên lan can xung quanh được sơn màu đỏ. Khuôn viên đàn Nam Giao hình chữ nhật, chiều dài 390m, chiều rộng 265m, xung quanh có tường thành bao bọc, bát ngát một màu xanh của thông; bốn hướng đều có cửa ra vào, cửa chính hướng Nam. Trong khuôn viên rộng lớn ấy có một số công trình kiến trúc nhỏ: Trai Cung (nơi vua nghỉ ngơi, trai giới cho thanh tịnh trước khi đăng đàn tế lễ), Thần Trù  (nơi nấu nướng phục vụ tế lễ), Thần Khố (nhà kho cất đồ dùng phục vụ tế lễ). Trước ngày lễ có một số công trình tạm được dựng lên như: Thanh ốc, hình nón, lợp vải màu xanh, ở trên Viên Đàn. Hoàng ốc, nhà vuông, lợp vải màu vàng, ở trên Phương Đàn. Đại thử, chỗ nghỉ ngơi của vua… Đàn Nam Giao ở Huế là di tích đàn tế trời duy nhất của nhà nước quân chủ Việt Nam còn hiện hữu. Người xưa tin vào thuyết Thiên mệnh, họ quan niệm vua là Thiên tử, thay trời hành đạo ở trần gian. Giữ đạo làm con hàng năm vua phải đích thân làm chủ lễ tế trời ở đàn Nam Giao.
Từ đầu triều Nguyễn, hàng năm lễ tế trời được tổ chức vào đầu tháng 2 (âm lịch). Bộ Công và Bộ Lễ có nhiệm vụ chuẩn bị chu đáo từ vài tháng trước đó. Khâm Thiên Giám lo việc xem ngày từ đầu tháng giêng. Chọn được ngày tốt vua ban dụ, niêm yết ở Phu Văn Lâu để chúng thần và nhân dân đều biết mà có sự chuẩn bị. Các quan được dự lễ tế Giao phải trai giới trước đó 3 ngày. Các làng xã dọc theo lộ trình của đạo ngự từ Ngọ Môn đến Trai Cung thi đua nhau làm cổng chào, đặt hương án để lạy mừng khi xa giá của nhà vua đi qua. Mỗi lần lên tế Giao bản thân nhà vua cũng phải trai giới 3 ngày tại Trai Cung, nằm ở phía tây đàn Nam Giao. Đoàn Ngự Đạo lên Trai Cung thường từ 1.000 đến 5.000 người. Về hình thức thì đây là một Trung đạo, Hậu đạo. Khởi hành từ Đại Nội lúc 8h nhưng phải có đủ hoàng thân quốc thích, văn võ bá quan, lính tráng, voi ngựa, cờ quạt, trướng liễn, tàn lọng, các ban đại nhạc, vũ công, phường bát âm… Lễ tế kéo dài từ lúc 2h đến 5h sáng trong không khí thành kính, trang nghiêm. Trong quá trình hành lễ có cử đại nhạc, bát âm, vũ công, ca công hát 9 khúc nhạc tế theo 9 giai đoạn của buổi lễ.
Sau buổi lễ vua trở về Trai Cung, các Hoàng thân, đại thần đến làm lễ khánh hạ, lạy mừng nhà vua. Trời vừa sáng Ngự Đạo hồi cung; đội hình cũng giống như khi từ Đại Nội lên Nam Giao, chỉ có khác là lúc này có cử nhạc vui vẻ, thể hiện sự hân hoan của thần dân sau khi vua vừa hoàn thành mỹ mãn một đại lễ quan trọng vào dịp đầu năm mới.
Vì sự tốn kém quá lớn nên từ thời Thành Thái triều đình ấn định 3 năm mới tổ chức tế Giao một lần.
Khi xưa, trong những ngày diễn ra lễ tế Giao, từ trong triều ra ngoài nội, từ quan lại cho đến dân chúng cũng đều hân hoan kéo nhau đi xem đông vui như trẩy hội. Còn bây giờ, tại các kỳ Festival Huế, lễ hội Nam Giao được thiết kế, xây dựng dựa theo nghi lễ tế Giao thì đoàn ngự đạo đi đến đâu, dân chúng, du khách xuýt xoa, trầm trồ đến đấy. Hầu như tất cả các phương tiện ghi hình đều được huy động hết về đây để tranh thủ ghi lại những khoảnh khắc tuyệt đẹp của một lễ hội mà mỗi người vẫn hằng thao thức, khao khát từ lâu. Nhiều mẹ, nhiều chị đi xem hội trong những bộ áo dài. Nhiều bô lão đi xem hội trong trang phục áo dài khăn đóng. Và khi đám rước đi qua, họ chắp hai tay trước ngực vái một cách thành kính. Bởi vì lễ hội Nam Giao không đơn thuần chỉ là lễ hội, mà nó còn ẩn chứa một cái gì đó thật thiêng liêng khởi nguyên từ khát vọng thái bình, thịnh vượng tận trong thẳm sâu tâm thức của mỗi một con người.
Có thể thấy, lễ tế Giao là một lễ hội cung đình có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, mà trên hết là tinh thần hòa ái với thiên nhiên với ước nguyện mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, thiên hạ thái bình.

  

------------------------------------------------
Tuấn Anh

Tin tức khác
Những cống hiến và công trạng của Quang Trung – Nguyễn Huệ trong lịch sử dân tộc
Những cống hiến và công trạng của Quang Trung – Nguyễn Huệ trong lịch sử dân tộc

Trong lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, Phú Xuân - Huế - Thuận Hóa là vùng đất gắn liền với triều đại Tây Sơn, một vương triều đã làm nên những chiến công hiển hách vào cuối thế kỷ thứ XVIII, mà công lao vĩ đại trước hết thuộc về người Anh hùng dân tộc lỗi lạc Nguyễn Huệ - Quang Trung. 

Kinh đô Huế - nơi quy tụ tài năng thợ thủ công cả nước
Kinh đô Huế - nơi quy tụ tài năng thợ thủ công cả nước

Để đáp ứng nhiệm vụ xây dựng, triều đình thông qua Bộ Công, Bộ Binh và Bộ Lại, Bộ Hộ khảo sát, thống kê các địa chỉ, nguồn thợ mà các triều đại trước đây đã sử dụng, tất cả thợ có từ 20 năm trong nghề trở lên đều đưa vào sổ để theo dõi khi cần tra xét và điều động về kinh. Việc triệu tập thợ và tuyển mộ được triều đình triển khai bằng nhiều hình thức. 

Ngự Hà và vai trò của nó trong hệ thống cấp thoát nước tự nhiên ở Nội thành
Ngự Hà và vai trò của nó trong hệ thống cấp thoát nước tự nhiên ở Nội thành

Mặc dù các tài liệu của triều Nguyễn mà hiện nay các nhà nghiên cứu có được để sử dụng không cho biết nhiều và rõ về hệ thống cấp thoát nước tự nhiên trong Kinh thành, nhưng khi xây dựng một công trình kiên trúc lớn như thế, chắc hẳn các tác giả của nó không thể không suy nghĩ kỹ đến vấn đề này. Địa bàn Thành Nội rộng đến 520 ha. Vũ lượng trung bình hàng năm ở vùng Huế thuộc vào mức cao nhất nước (2.995,5 mm). Lũ lụt lại thường xảy ra trên lưu bồn sông Hương, gây ngập úng cho toàn vùng nói chung và khu vực Thành Nội nói riêng. Do đó, thiết lập một hệ thống tiêu thông thoát nước cho Kinh thành là một việc làm tất yếu của người xưa. Hiện tại, vấn đề ấy lại càng trở nên cấp thiết. Hơn nữa, từ trước đến nay, nó luôn luôn liên quan mật thiết đến cảnh quan thiên nhiên của các công trình kiến trúc trên địa bàn và môi trường sinh thái của bao thế hệ con người cư trú ở đó, bao gồm cả vua quan lẫn dân chúng. Trong hệ thống ấy, Ngự Hà giữ vai trò quan trọng nhất, thứ đến là các ao hồ và cống rãnh. Tất cả đều liên hệ với nhau và thông với mặt nước sông Hương. 

Lịch sử và Lễ tế Tổ nghề Kim hoàn Việt Nam
Lịch sử và Lễ tế Tổ nghề Kim hoàn Việt Nam

Qua bao nhiêu biến động thăng trầm của lịch sử, hàng trăm bảo vật của triều Nguyễn như: ấn vàng, kiếm vàng, sách vàng, đồ ngự dụng bằng vàng… vẫn còn được bảo quản, gìn giữ khá nguyên vẹn tại các bảo tàng, di tích. Đây là những bảo vật vô giá của dân tộc Việt Nam, không những chứa đựng các giá trị văn hóa, lịch sử, nghệ thuật đặc sắc mà còn phản ánh tài nghệ khéo léo, tinh tế của các bậc thầy nghệ nhân kim hoàn cung đình xưa. Nhưng ít ai biết đến khu lăng mộ tổ nghề kim hoàn đã được triều Nguyễn công nhận, ban sắc phong danh vị tọa lạc uy nghi trên đất phường Trường An, thành phố Huế. 

Bình phong và non bộ trong kiến trúc cung đình Huế
Bình phong và non bộ trong kiến trúc cung đình Huế

Huế xưa nay vốn nổi tiếng với nghệ thuật kiến trúc cảnh quan mang đậm tính chất phong thủy. Trong các yếu tố của nghệ thuật kiến trúc truyền thống Huế, bình phong và non bộ đương nhiên là những yếu tố không thể thiếu. 

Doanh nghiệp Quốc phòng thời nhà Nguyễn
Doanh nghiệp Quốc phòng thời nhà Nguyễn

Từ những ngày đầu vào lập nghiệp ở Đàng Trong, các Chúa Nguyễn đã quan tâm đến hoạt động xuất nhập khẩu và kinh tế biển. Sự hình thành và phát triển rực rỡ của thương cảng Hội An là một minh chứng sinh động nhất về chính sách mở cửa, giao thương với bên ngoài. Các hoạt động vươn ra biển Đông khẳng định chủ quyền lãnh hải và khai thác biển đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, được ghi chép tương đối đầy đủ, thống nhất trong các bộ sử ký của nhà Nguyễn cũng như trong các tài liệu của người nước ngoài. 

Khu vườn của thế giới bên kia
Khu vườn của thế giới bên kia

Triều đại nhà Nguyễn có 13 đời vua nhưng do những lý do lịch sử khác nhau nên chỉ xây dựng được 7 khu lăng tẩm. Mỗi lăng rộng từ hàng chục đến hàng trăm ha, qui mô lớn nhỏ khác nhau, xây dựng, bố cục theo những kiểu dáng khác nhau nhưng vẫn có những đặc điểm chung thống nhất. Bao quanh lăng là một vòng la thành rộng lớn. Phía ngoài la thành ngày trước là vùng đất cấm. Bên trong la thành, xung quanh các công trình kiến trúc có đào hồ thả sen, ven hồ trồng đủ các loại cây thích hợp, có kiểu dáng đẹp. Các công trình kiến trúc ở mỗi lăng thường được bố trí từ ngoài vào trong theo thứ tự: cổng tam quan, sân chầu, nhà bia, điện thờ, lầu gác, hồ sen, đình tạ, sân vườn. Ở trong cùng là bửu thành, nơi đặt thi hài của nhà vua. 

Tấm lòng dân Huế với thất thủ Kinh đô
Tấm lòng dân Huế với thất thủ Kinh đô

Ngày 11/5/1884 thực dân Pháp buộc triều đình Mãn Thanh ký điều ước Thiên Tân, cam kết rút quân ra khỏi Bắc Bộ. Được yên ổn về mặt Bắc, chúng quyết định lấn thêm môt bước trên con đường xâm chiếm lãnh thổ nước ta. Với lực lượng quân sự có trong tay, tướng Patenotre buộc triều dình Huế ký hòa ước 6/6 /1884 công nhận sự bảo hộ của chúng; ép triều đình phải để chúng đem quân vào đóng tại Mang Cá nhằm vô hiệu hóa các hoạt động của binh lính ta trong Kinh thành.